ÔNG CỐ DIỆP, NGƯỜI Ở LẠI GIỮA DÂN MÌNH

Ông cố Diệp ơi,
Hồi nhỏ, con hay thắc mắc về cái danh xưng “ông cố” mà bà con mình hay gọi các linh mục. Con có đứa bạn cũng ở miền Tây quê ông, nó nói ở miền Tây, người ta kỵ nhất là sự xa cách, nên ai mà mình thương, mình quý, mình coi như ruột thịt trong nhà thì mới dám gọi bằng cái tiếng “cố”.
Nên con cũng muốn gọi Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp là “ông cố”, giống như cái cách người dân Tắc Sậy vẫn gọi. Dù con chưa từng gặp ông, nhưng cái tên của ông thì nghe riết thành quen. Vì hồi nhỏ, mỗi lần theo người lớn đi lễ, con hay nghe người ta nhắc: “Cha Diệp đó nghen, linh lắm!” Lúc đó con đâu hiểu gì nhiều. Chỉ thấy người ta đứng trước bàn thờ, chắp tay, có người thì rưng rưng nước mắt. Con cũng đứng ké, nhìn theo, mà trong lòng thì cứ thắc mắc: sao người ta thương ông cố dữ vậy?
Hôm nay, tự dưng có duyên cầm được cuốn sách “Con Sóc Trên Tàu Dừa” lên đọc, con mới thấy mình ngộ ra được biết bao nhiêu chuyện. Cái tên cuốn sách nghe qua thì thấy nó lạ lẫm, ngộ ngộ sao đâu, nhưng mà tới chừng ngồi ngẫm lại một hồi, tự nhiên thấy cái bụng mình nó thương dữ dội hà. Nó thương cái kiểu mộc mạc, bình dân như màu xanh của lá dừa, như cái tính nết chịu thương chịu khó của dân mình hồi đó tới giờ vậy. Hệt như cái tánh nết ông cố dành cho bà con mình vậy đó. Lúc nào ông cũng giống như con sóc nhỏ tận tụy trên tàu dừa quê hương, cứ thoăn thoắt đi hết nhà này tới nhà kia, lo cho dân nghèo từng miếng ăn, dạy họ từng lời kinh. Ông cố chọn sống “ở giữa” cuộc đời. Ở giữa những phận người khổ cực lầm than, ở giữa những trăn trở, lo âu của một thời loạn lạc. Cái sự thánh thiện của ông cố, sau khi con đọc xong mấy trang viết ấy, con thấy nó hổng phải cái gì lóng lánh hay xa xôi tít tắp đâu. Ngược lại, nó thơm nồng mùi lúa mới, thơm mùi phù sa mặn đắng vốn đặc trưng của đất quê mình. Chính thái độ đứng “ở giữa” dân mình như vậy, nên người ta mới thương, mới nhớ ông cố hoài cho tới tận bây giờ.
Ở dưới quê con, người ta quý nhau cũng chỉ vì cái lẽ đó. Chẳng cần phải thưa gởi hay nói năng chi cho nhiều, chỉ cần cái lâm nguy, lúc gian nan nhứt mà vẫn còn thấy mặt nhau, chịu ở lại với nhau, vậy là đủ đầy rồi. Con nghe người ta kể lại, tới cái lúc dầu sôi lửa bỏng, nguy hiểm kề cận bên mình, vậy mà ông cố vẫn nhứt quyết không chịu rời đi. Con nghĩ bụng, chắc cái hồi đó ông cố cũng có biết bao nhiêu là lựa chọn chớ bộ. Ở đời này, ai mà hổng ham sống sợ chết; ai mà hổng muốn tìm chỗ yên thân. Nhưng mà ông cố quyết tâm chọn ở lại. Cái lựa chọn đó, con thấy nó hổng phải kiểu anh hùng lẫm liệt gì đâu, mà nó giống hệt như tấm lòng của một người cha, người chú trong nhà, vì thương quá mà hổng nỡ bỏ mặc đám con cháu, bỏ mặc bà con mình lại phía sau trong lúc ngặt nghèo. Cái lựa chọn ở lại đó, người ngoài nhìn vô thấy lạ, nhưng người miền Tây mình thì hiểu. Nó hệt như rễ dừa, cứ âm thầm bám sâu vô đất phèn mặn chát để giữ cho cây đứng vững trước giông bão. Ông cố không nỡ bỏ dân vì cái tình đã “dính” vô nhau rồi thì khó mà buông được. Ông chết để dân được sống, một cái chết nhẹ tênh như lá dừa rụng xuống dòng kênh, nhưng lại để lại cái nghĩa nặng tình thâm tới ngàn đời.
Ông ở lại, rồi ông mất.
Nghe đơn giản vậy thôi, mà cái “ở lại” đó, nó đi xa dữ lắm. Từ một xóm nhỏ, từ một vùng quê có cánh đồng, có con rạch, có tàu dừa… câu chuyện của ông đi xa hơn. Đi tới những nơi mà chắc hồi đó ông cũng không nghĩ tới. Rồi người ta tìm về. Người ta cầu nguyện. Người ta kể lại câu chuyện của ông cho người khác nghe. Không phải vì muốn làm cho lớn, mà vì cái gì đó trong lòng người ta không quên được.
Con cũng vậy. Dù sinh ra sau này, dù không sống trong thời của ông, nhưng mỗi lần nghe kể, con vẫn thấy có cái gì đó rất thật. Không phải chuyện xa vời, mà là chuyện của một con người sống trọn vẹn với những gì mình tin.
Nên khi đọc sách về cuộc đời ông cố, con thấy như mình đang được đi lại trên những con đường đất quê những năm tháng cũ. Cuốn sách không bắt con phải nhớ ngày, nhớ tháng, nó chỉ bắt con phải cảm nhận. Cảm cái hơi ấm của một bàn tay mục tử, cảm cái nghĩa khí của một người con Nam Bộ dám lấy mạng sống mình để giữ gìn sự sống cho bà con.
Ông cố à,
Bây giờ người ta đang nói nhiều về việc ông được tuyên phong Chân phước. Con nghe mà thấy vui cái bụng. Vui như chuyện của người thân trong nhà được vinh danh vậy đó. Nghĩ kỹ lại, con thấy hình như ông vẫn vậy. Vẫn là “ông cố Diệp” của bà con mình. Vẫn gần, vẫn đơn sơ. Chỉ có điều, từ cánh đồng, con rạch, tàu dừa… con đường của ông bây giờ đã chạm tới bàn thờ của Hội thánh. Nghe thì xa, mà sao thấy cũng gần. Con nghĩ, chắc ông cũng không có ý “đi xa” tới vậy đâu. Ông chỉ sống trọn phần của mình thôi. Mà có khi, chính vì sống trọn cái phần đời mình như vậy, nên con đường mới tự nhiên mở ra. Thực sự con đường đi từ tàu dừa tới bàn thờ Hội thánh, xét cho cùng đâu có xa xôi gì. Nó chỉ dài bằng đúng một trái tim biết yêu thương cho tới tận cùng, yêu tới mức không còn giữ lại gì cho riêng mình, phải vậy không ông cố?
Mà lạ lắm ông cố à, có những câu chuyện tưởng chừng đã trôi theo con nước, vậy mà vẫn có người nhặt lại, ngồi kể bằng một giọng rất nhẹ. Không làm lớn chuyện, không cố giải thích, chỉ như ngồi bên bờ rạch, nhìn con sóc chuyền qua mấy tàu dừa, rồi chậm rãi nói về một con người đã từng sống giữa xóm làng này.
Con nghĩ, chắc ông cũng không ngờ có ngày câu chuyện đời mình lại được kể theo cách này: hiền như gió, mà thấm sâu như nước. Thôi, con xin dừng ở đây nghen ông cố, chớ mà nấn ná nói thêm hồi nữa, có khi con lại lỡ miệng khui hết trơn mấy cái chuyện kín trong lòng ra thì kỳ lắm.
Để con ra ngó coi bữa nay mấy con sóc có còn nhảy nhót, đùa giỡn trên mấy tàu dừa trước ngõ mình không. Biết đâu chừng, thấy con người quen, tụi nó lại xúm xít kể con nghe thêm mấy chuyện hồi xửa hồi xưa về ông cố nữa thì sao.
Ông cố nhớ cầu nguyện cho tụi con nghen!
Sơ Maria Madeleine Nguyễn Thị Lan, Dòng Thánh Phaolô - Thiện Bản (OSP)

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận!